
Theo Luật Địa chất và khoáng sản 2024, hoạt động địa chất bao gồm: điều tra cơ bản địa chất, khảo sát – thăm dò địa chất, địa chất môi trường, địa chất tai biến, địa chất đô thị, địa chất biển và hải đảo…
Các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động này có thể là cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức khoa học – công nghệ và cá nhân hành nghề chuyên môn. Luật lần đầu tiên xác lập đầy đủ địa vị pháp lý của các chủ thể này, kèm theo hệ thống quyền và nghĩa vụ rõ ràng.
Ngoài ra, Luật đã đánh dấu bước thay đổi căn bản trong tư duy quản lý tài nguyên khoáng sản, từ “khai thác tối đa” sang “quản lý, sử dụng bền vững, hiệu quả”. Một trong những nội dung quan trọng của Luật là quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khoáng sản, thu hồi khoáng sản nhằm siết chặt kỷ cương, chống thất thoát tài nguyên, bảo vệ môi trường và quyền lợi của người dân.
Tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động địa chất đúng quy định của pháp luật sẽ được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp. Việc cấp phép, giao nhiệm vụ điều tra địa chất được thực hiện công khai, minh bạch. Chủ thể hoạt động địa chất được tiếp cận, khai thác thông tin, dữ liệu địa chất thuộc cơ sở dữ liệu quốc gia theo quy định.
Luật cho phép tổ chức, cá nhân được tiến hành đo đạc, khoan khảo sát, lấy mẫu, quan trắc địa chất trong phạm vi được cấp phép. Tuy nhiên, việc khảo sát phải bảo đảm không xâm phạm quốc phòng, an ninh, không làm ảnh hưởng đến đời sống người dân, không gây thiệt hại đến công trình, tài sản.

Các kết quả điều tra, khảo sát địa chất do tổ chức, cá nhân thực hiện hợp pháp được phép sử dụng phục vụ nghiên cứu khoa học, lập dự án đầu tư, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Đồng thời, các sản phẩm nghiên cứu, số liệu tự tạo lập được pháp luật bảo hộ quyền sở hữu theo quy định.
Nhà nước có chính sách hỗ trợ, khuyến khích các hoạt động điều tra địa chất phục vụ phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng – an ninh, phát triển kinh tế biển, hải đảo. Các tổ chức, cá nhân có thể được hỗ trợ kinh phí, ưu đãi đầu tư, thuế và các chính sách khác theo từng chương trình cụ thể.
Nếu quyền là điều kiện để khuyến khích phát triển, thì nghĩa vụ chính là “hàng rào pháp lý” để kiểm soát chặt chẽ hoạt động địa chất. Tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện điều tra, khảo sát đúng về phạm vi, độ sâu, thời gian, mục tiêu đã được phê duyệt. Luật nghiêm cấm việc lợi dụng hoạt động địa chất để thăm dò, khai thác khoáng sản trái phép.
Theo Phó Cục trưởng Khoáng sản Việt Nam (Bộ Nông Nghiệp và Môi trường) Mai Thế Toản: “Tài nguyên địa chất, khoáng sản vừa là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, vừa là nguồn dự trữ lâu dài của quốc gia cần phải được điều tra, đánh giá và lập quy hoạch, kế hoạch thăm dò đầy đủ, quản lý tập trung, thống nhất; khai thác, sử dụng bền vững, hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài”.

Trong quá trình khảo sát, khoan thăm dò, tổ chức, cá nhân phải thu gom chất thải, không gây ô nhiễm nguồn nước, không làm sạt lở đất đai, không phá hủy cảnh quan, rừng, đất sản xuất của người dân. Sau khi kết thúc hoạt động phải hoàn trả mặt bằng, lấp hố khoan, phục hồi môi trường về trạng thái ban đầu.
Các hoạt động địa chất phải bảo đảm tuyệt đối an toàn lao động, an toàn cho cộng đồng dân cư xung quanh. Nếu gây ra sự cố như sạt lở, lún nứt nhà cửa, hư hỏng công trình, tổ chức, cá nhân gây thiệt hại phải bồi thường đầy đủ theo quy định của pháp luật.
Một điểm mới về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân là tất cả kết quả điều tra địa chất như bản đồ, số liệu đo đạc, mẫu vật… đều phải nộp, lưu trữ tại cơ sở dữ liệu địa chất quốc gia. Dữ liệu địa chất được coi là tài sản quốc gia, không còn là “tài sản riêng” của đơn vị thực hiện như trước đây.
Luật cũng quy định rõ, không được buôn bán trái phép mẫu vật, tài liệu địa chất; không được lợi dụng hoạt động điều tra để chiếm đoạt tài nguyên. Khi phát hiện dấu hiệu tai biến địa chất như sụt lún, trượt lở, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm báo cáo kịp thời cho cơ quan chức năng.

Theo Luật Địa chất và khoáng sản, hoạt động khoáng sản, thu hồi khoáng sản bao gồm các công đoạn: Thăm dò khoáng sản, Khai thác khoáng sản, Chế biến khoáng sản, Đóng cửa mỏ, phục hồi môi trường sau khai thác. Chủ thể tham gia hoạt động khoáng sản gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức kinh tế, cá nhân được Nhà nước cấp phép hoạt động khoáng sản theo quy định.
Tổ chức, cá nhân được quyền khai thác đúng loại khoáng sản, đúng trữ lượng, công suất, đúng phương pháp khai thác và hoạt động trong phạm vi, thời hạn ghi trong giấy phép. Ngoài ra, được sử dụng khoáng sản khai thác hợp pháp phục vụ sản xuất, kinh doanh trong nước hoặc xuất khẩu theo quy định của pháp luật.
Không chỉ vậy, tổ chức/cá nhân được quyền chuyển nhượng dự án theo quy định, thế chấp tài sản hình thành từ hoạt động khai thác để vay vốn và hợp tác, liên kết với các tổ chức trong và ngoài nước theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, mọi hoạt động chuyển nhượng, liên kết đều phải được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.
Song hành với đó, các tổ chức/cá nhân tham gia hoạt động khoáng sản cũng phải có nghĩa vụ chỉ được thăm dò, khai thác đúng theo loại khoáng sản, phạm vi mỏ, công suất khai thác, phương pháp khai thác và thời hạn được cấp phép. Phải thực hiện đầy đủ các khoản như tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, tiền thuê đất, thuê mặt nước và các khoản phí, lệ phí khác theo quy định.
Ngoài ra, Doanh nghiệp bắt buộc phải ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường ngay từ khi được cấp phép. Sau khi kết thúc khai thác, phải thực hiện hoàn thổ, trồng cây, phục hồi cảnh quan và đóng cửa mỏ đúng kỹ thuật.

Công tác bảo đảm an toàn cho người lao động trong hầm lò, mỏ lộ thiên cũng được nêu rõ trong Luật Địa chất và khoáng sản 2024. Luật cũng quy định rõ tổ chức cá nhân phải xử lý nước thải, bụi, tiếng ồn đạt tiêu chuẩn, không làm ô nhiễm đất, nguồn nước, không khí, không phá rừng, không gây suy thoái hệ sinh thái.
Ngoài ra, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ báo cáo định kỳ về sản lượng, trữ lượng, môi trường, cung cấp đầy đủ hồ sơ khi cơ quan chức năng yêu cầu và chấp hành thanh tra, kiểm tra, giám sát của Nhà nước.

Việc quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong hoạt động khoáng sản là cơ sở pháp lý quan trọng để chống thất thoát tài nguyên, ngăn chặn lợi ích nhóm, bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền lợi người dân vùng mỏ và sử dụng khoáng sản tiết kiệm, hiệu quả, lâu dài.
Luật Địa chất và Khoáng sản 2024 không chỉ điều chỉnh hoạt động khai thác, mà còn định hình lại tư duy phát triển khoáng sản Việt Nam theo hướng bền vững.