
(PLVN) - Hệ thống chính sách pháp luật không ngừng được hoàn thiện sẽ là nền tảng vững chắc cho công cuộc đổi mới toàn diện các khâu nghiệp vụ trong quy trình, hoạt động hải quan. Ngành Hải quan đang tiếp tục huy động mọi nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thiện pháp luật về hải quan, đảm bảo phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới, tăng cường quản lý, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.

Đẩy mạnh, hoàn thiện thể chế pháp luật về hải quan là một trong những giải pháp chủ chốt, được coi là “đột phá của đột phá”, không chỉ là động lực, còn là công cụ quan trọng để tạo thuận lợi thương mại, tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp và đảm bảo công tác quản lý nhà nước về hải quan.
Theo đó, ngành Hải quan đã quán triệt sâu rộng nội dung 4 Nghị quyết của Bộ Chính trị đến cán bộ, công chức trong toàn ngành, bao gồm: Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, qua đó xây dựng được bức tranh tổng thể về hệ thống pháp luật hải quan và pháp luật có liên quan để sửa đổi, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật nhằm chuyển hóa các Nghị quyết thành hành động.

Bám sát chỉ đạo của các cấp, ngành Hải quan đã và đang đẩy mạnh hoàn thiện thể chế pháp luật về hải quan, luôn lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm trong quá trình cải cách hành chính về hải quan, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư và hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Từ đầu năm đến nay, Cục Hải quan đã tiếp tục nghiên cứu, cải cách thủ tục hành chính trong quá trình xây dựng, chỉnh lý hàng loạt dự thảo văn bản quy phạm pháp luật như: Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 38/2015/TT-BTC và Thông tư số 39/2018/TT-BTC quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu; Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 50/2018/TT-BTC quy định chỉ tiêu thông tin, mẫu chứng từ khai báo khi làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh đối với phương tiện đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và đường sông; Thông tư về các chỉ tiêu thông tin thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử; …
Nhiều chính sách mới đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được ban hành trong năm 2025, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hải quan, như: Nghị định số 167/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan; Thông tư số 51/2025/TT-BTC ngày 24/6/2025 của Bộ Tài chính quy định thủ tục về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh và phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh…

Trong năm 2025, Cục Hải quan đã cùng với Bộ Tài chính, thường xuyên rà soát Biểu thuế suất thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, xin ý kiến góp ý của các Bộ, ngành và các đối tượng chịu ảnh hưởng để nghiên cứu, trình Chính phủ điều chỉnh các mức thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng, nhóm mặt hàng, để thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ; hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp.
Thích ứng kịp thời với tình hình thế giới, khu vực, hướng tới cân bằng cán cân thương mại với các quốc gia có quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam; góp phần quản lý việc khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô, khoáng sản chưa qua chế biến…

Các mức thuế suất tại Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đảm bảo phù hợp với cam kết của Việt Nam trong WTO và nguyên tắc ban hành biểu thuế, thuế suất tại Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Có thể nói, công tác cải cách thủ tục hành chính về hải quan đang được đẩy mạnh, theo hướng đơn giản hóa bộ hồ sơ hải quan, các bước trong quy trình thủ tục hải quan được quy định rõ ràng, dễ hiểu, cụ thể theo hướng giảm thời gian kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa.

Đặc biệt, việc sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan (tại Luật số 90/2025/QH15, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2025) là một bước tiến đáng ghi nhận, thể hiện rõ quyết tâm của ngành Hải quan trong việc đồng hành cùng doanh nghiệp và thực hiện các mục tiêu lớn của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Những điểm mới như sửa đổi điều kiện áp dụng và chế độ ưu tiên cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp bán dẫn, công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo… được xem là bước đi phù hợp, kịp thời để thúc đẩy các ngành mũi nhọn của nền kinh tế.
Từng bước, những quy định sửa đổi trong Luật đã đi vào cuộc sống và hỗ trợ tích cực cho cộng đồng doanh nghiệp giải quyết những tồn tại, bất cập trong thực tiễn làm thủ tục hải quan, nhất là với nhóm doanh nghiệp công nghệ cao.
Một trong điểm hấp dẫn, thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư tại Luật số 90/2025/QH15 đó chính là việc khắc phục những tồn tại, hạn chế về xuất nhập khẩu tại chỗ.
Theo báo cáo đánh giá chỉ số chi phí tuân thủ năm 2022, chi phí tuân thủ thực hiện một thủ tục hành chính trung bình đối với hoạt động thương mại xuyên biên giới là 3,84 triệu đồng; thời gian trung bình để thực hiện là 14,9 giờ, trong đó thời gian làm các thủ tục kinh doanh cảng để lấy hàng mất 7,1 giờ, chiếm 46,7% tổng thời gian.
Tuy nhiên, khi áp dụng thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ đã tạo điều kiện để người mua và người bán giao nhận hàng hoá trực tiếp với nhau theo chỉ định của thương nhân nước ngoài, không mất các chi phí phát sinh trung gian (tức là loại bỏ 7,1 giờ - tương đương 46,7% thời gian làm thủ tục).

Với khoảng 1,88 triệu tờ khai xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ được đăng ký và hoàn thành mỗi năm ở Việt Nam (số liệu trung bình giai đoạn 2018 – 2022), chi phí và thời gian làm thủ tục hải quan được tiết kiệm nhờ vào việc sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan là một con số không hề nhỏ, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
Một điểm nhấn khác trong việc sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan là việc mở rộng chế độ ưu tiên trong lĩnh vực hải quan, đặc biệt cho các doanh nghiệp công nghệ cao. Theo đó, doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao; doanh nghiệp thực hiện dự án công nghệ chiến lược; doanh nghiệp thực hiện dự án sản xuất sản phẩm công nghệ số trọng điểm, dự án nghiên cứu và phát triển, thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử sản phẩm chip bán dẫn, dự án xây dựng trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo; doanh nghiệp thực hiện dự án sản xuất sản phẩm phụ trợ trực tiếp trong công nghiệp bán dẫn.
So với điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên cho các doanh nghiệp thông thường, các doanh nghiệp nêu trên không cần đáp ứng điều kiện về kim ngạch và điều kiện về tuân thủ pháp luật hải quan, pháp luật thuế trong 2 năm liên tục. Việc này mở đường cho các doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực công nghệ dễ dàng tiếp cận cơ chế ưu tiên về thủ tục hải quan, mang lại lợi ích phát triển ngành công nghệ bán dẫn của quốc gia và doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi.
Bên cạnh đó, Cục Hải quan tiếp tục nghiên cứu, rà soát quy định của Luật Hải quan và yêu cầu Hải quan số, xây dựng nội dung sửa để trình Bộ Tài chính xem xét để trình Chính phủ đề xuất bổ sung vào Chương trình lập pháp năm 2026 đối với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, với tiến độ trình Quốc hội khóa XVI tại kỳ họp thứ 10 (tháng 10/2026).
Đây là sẽ cơ sở pháp lý để đẩy mạnh việc hiện đại hóa và chuyển đổi số toàn diện công tác quản lý nhà nước về hải quan, đáp ứng yêu cầu quản lý trong bối cảnh mới đặc biệt là các mô hình kinh tế mới, kinh doanh dựa trên công nghệ và nền tảng số và phù hợp với mô hình sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy mới của ngành hải quan và đáp ứng được thời hạn quy định tại Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội về việc xử lý các nội dung liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.

Chuyển đổi số đang trở thành nền tảng cốt lõi trong quá trình hiện đại hóa của Hải quan Việt Nam, góp phần chuyển đổi từ mô hình quản lý thủ công sang mô hình điều hành dựa trên dữ liệu và công nghệ thông minh. Đây được xem như kim chỉ nam giúp các Chi cục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm chi phí và thời gian cho doanh nghiệp, qua đó bảo đảm hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn luôn thông suốt, minh bạch và hiện đại.
Nhận thức yêu cầu, ý nghĩa quan trọng của việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Cục Hải quan đã tổ chức triển khai quyết liệt, thống nhất trong toàn Ngành.

Năm 2025, đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ của toàn ngành Hải quan trong quá trình hiện đại hoá, với hàng loạt nhiệm vụ được triển khai theo các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, Cục Hải quan.
Trong đó, thủ tục hải quan được số hóa mạnh mẽ, chuyển từ hồ sơ giấy sang điện tử, giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong sản xuất kinh doanh. Hệ thống VNACCS/VCIS - công cụ trung tâm trong quản lý tờ khai điện tử và tự động hóa thông quan, từ đầu năm 2025, cơ quan Hải quan đã tiến hành cải tiến hệ thống công nghệ thông tin tập trung, nâng cao khả năng xử lý và kết nối dữ liệu nội ngành để phục vụ chuyển đổi số.
Thống kê cho thấy, hiện nay, 100% thủ tục hải quan cơ bản được số hóa, và tỷ lệ doanh nghiệp tham gia hệ thống đạt khoảng 99,65%. Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) đã tích hợp trên 250 thủ tục hành chính của 13 bộ, ngành. Bên cạnh đó, cơ quan Hải quan đã trao đổi chính thức thông tin chứng nhận xuất xứ mẫu D điện tử với 9 nước ASEAN thông qua Cơ chế một cửa ASEAN.

Cục Hải quan tiếp tục xây dựng, phát triển dữ liệu như: Kết nối chia sẻ dữ liệu dân cư với hệ thống thông tin Cục Hải quan (đã hoàn thành kết nối kỹ thuật đến hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (C06), hoàn thành tích hợp ứng dụng 03/06 dịch vụ do C06 cung cấp; 03/06 dịch vụ còn lại Cục Hải quan đang tích cực liên hệ trao đổi với các đơn vị liên quan để triển khai thực hiện. Kết nối, tích hợp, đồng bộ dữ liệu của TTHC đang thực hiện trên Cổng thông tin một cửa quốc gia với Cổng dịch vụ công quốc gia.
Ngành Hải quan đã duy trì, vận hành ổn định các hệ thống DVCTT của Ngành, duy trì triển khai thực hiện các DVCTT hải quan đã kết nối, tích hợp lên Cổng DVCQG; Hiện nay, đã có 27 Thủ tục được đồng bộ hồ sơ với Cổng Dịch vụ công quốc gia. Tính đến ngày 17/12/2025, số lượng hồ sơ đã đồng bộ hồ sơ từ hệ thống Một cửa quốc gia với Cổng Dịch vụ công quốc gia là 145.291 hồ sơ.
Về xây dựng, phát triển ứng dụng, dịch vụ phục vụ người dân, doanh nghiệp, Cục Hải quan tiếp tục triển khai có hiệu quả các hệ thống ứng dụng trong lĩnh vực hải quan: Triển khai thí điểm việc thanh toán thuế, phí liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu thông qua các trung gian thanh toán; Triển khai diện rộng hệ thống quản lý cửa hàng kinh doanh hàng miễn thuế; Triển khai bước tiếp theo sau khi được Bộ phê duyệt chủ trương đầu tư: Nâng cấp Hệ thống quản lý phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh... Nghiên cứu triển khai các tờ khai trị giá thấp theo mẫu tờ khai VNACCS trên hệ thống Thông quan điện tử V6.
Thực hiện quản lý, giám sát và đảm bảo vận hành Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS và các hệ thống công nghệ thông tin tập trung của ngành Hải quan ổn định 24/7, đảm bảo an ninh, an toàn, đường truyền thông suốt phục vụ đắc lực cho việc thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu. Mặt khác, tiếp tục đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Việc ứng dụng chuyển đối số của ngành Hải quan đã góp phần rút ngắn thời gian thông 20 - 30% nhờ số hóa giám sát và tự động hóa quy trình; Giảm chi phí tuân thủ, đặc biệt cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường xuyên; Tiếp cận dữ liệu minh bạch thông qua kho dữ liệu thương mại quốc gia: hỗ trợ lập kế hoạch kinh doanh, tuân thủ FTA; Cắt giảm hàng loạt giấy tờ, giảm tiếp xúc trực tiếp, hạn chế rủi ro phiền hà, nâng cao niềm tin của doanh nghiệp vào hệ thống hải quan hiện đại, minh bạch và chuyên nghiệp.
Những chính sách mới của năm 2025 – đặc biệt dưới sự dẫn dắt của Nghị quyết 57/NQ-CP, Nghị quyết 01/NQ-CP, Nghị quyết 97/QĐ-TTg và các văn bản chỉ đạo của Cục Hải quan đã tạo nên một môi trường xuất nhập khẩu minh bạch hơn, hiện đại hơn và hiệu quả hơn, khi chuyển đổi số không chỉ là xu hướng mà là động lực giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, tăng năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường quốc tế.

Theo định hướng của Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2030, Hải quan Việt Nam sẽ chuyển đổi từ mô hình điện tử sang mô hình số hóa hoàn chỉnh. Trong đó dữ liệu, công nghệ và năng lực số của con người là ba trụ cột trọng yếu.
Trọng tâm là triển khai đồng bộ Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, thực hiện đổi mới tư duy quản lý, phương thức điều hành, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong toàn bộ hoạt động hải quan. Ngành Hải quan xác định, thời gian tới, việc rà soát, sửa đổi, hoàn thiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực hải quan để thực hiện các Nghị quyết chiến lược và mô hình hải quan số, hải quan thông minh là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của ngành, qua đó củng cố niềm tin của doanh nghiệp, thể hiện rõ tinh thần đồng hành, hỗ trợ của cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình thực hiện chính sách mới.
Xuyên suốt quá trình đó, ngành Hải quan cam kết tiếp tục đồng hành với doanh nghiệp, lắng nghe khó khăn, cải cách toàn diện để mang lại môi trường kinh doanh thuận lợi nhất.