
Theo Điều 28 Luật Địa chất và khoáng sản, khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia là khu vực có khoáng sản nhóm I, nhóm II chưa khai thác, được xác định căn cứ vào kết quả điều tra địa chất về khoáng sản, kết quả thăm dò khoáng sản, bao gồm: Khu vực có khoáng sản cần dự trữ cho phát triển bền vững kinh tế - xã hội; Khu vực có khoáng sản nhưng được ưu tiên phát triển kinh tế mũi nhọn, có lợi thế cạnh tranh nổi trội; Khu vực có khoáng sản nhưng chưa đủ điều kiện để khai thác hiệu quả hoặc có đủ điều kiện khai thác nhưng chưa có các giải pháp khắc phục tác động xấu đến môi trường.
Trước đây, Luật Khoáng sản 2010 chưa quy định thời gian dự trữ khoáng sản, cơ sở pháp lý và điều kiện cụ thể của việc triển khai các dự án trên mặt ở các khu vực dự trữ khoáng sản.
Về thực tiễn, các khu vực dự trữ titan, cát trắng phân bố dọc khu vực ven biển là nơi có điều kiện kinh tế -xã hội thuận lợi để phát triển các dự án như điện gió, điện mặt trời, các khu công nghiệp, các khu du lịch, ... Đã đặt ra vấn đề phải sử dụng hiệu quả tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản, đảm bảo vừa dự trữ khoáng sản lâu dài theo quy định của Luật Khoáng sản, mà vẫn phát triển được các dự án kinh tế - xã hội.

Do đó, chính sách về khu vực khoáng sản dự trữ quốc gia đã được điều chỉnh trong Luật Địa chất và Khoáng sản nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn phát sinh trong công tác quản lý nhà nước về khoáng sản, nhu cầu phát triển kinh tế.
Trao đổi với Báo Pháp luật Việt Nam, TS. Vũ Mạnh Hào - Phó Trưởng phòng Địa chất (Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam) cho biết: “Một nội dung rất mới trong Luật Địa chất và khoáng sản là lựa chọn các khu vực dự trữ nhưng mà ưu tiên để phát triển các kinh tế, có lợi thế cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh nổi bật. Ví dụ khoáng sản Titan ở Bình Thuận, Đà Nẵng, đây là một khu vực dự trữ
Ngoài ra, các dự án thăm dò, khai thác khoáng sản không thuộc đối tượng dự trữ khoáng sản và có thời gian hoạt động không vượt quá thời gian dự trữ khoáng sản. Còn lại là một trong những đối tượng được thực hiện tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia”.

Không chỉ vậy, tại điều 33 Luật Địa chất và khoáng sản quy định rõ về thực hiện dự án đầu tư tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia. Theo đó, có các dự án sau đây được thực hiện tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia, cụ thể: (i) Dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội;
(ii) Dự án xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định của pháp luật về đất đai có thời hạn sử dụng đất ổn định lâu dài hoặc có thời gian hoạt động dài hơn thời gian dự trữ khoáng sản còn lại và được Thủ tướng Chính phủ cho phép thực hiện tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia;
(iii) Thăm dò, khai thác khoáng sản không thuộc đối tượng dự trữ khoáng sản và có thời gian hoạt động không vượt quá thời gian dự trữ khoáng sản còn lại;Dự án đầu tư khác không thuộc trường hợp có thời hạn sử dụng đất ổn định lâu dài hoặc không thuộc trường hợp có thời gian hoạt động dài hơn thời gian dự trữ khoáng sản còn lại.

“Những khoáng sản không phải khoáng sản dự trữ, thì vẫn được quyền cấp phép khai thác. Như trước đây Luật Khoáng sản 2010 thì không được, không quy định rõ ràng về việc này, thì Luật mới phân định rất rõ điều đó”, TS. Vũ Mạnh Hào nhấn mạnh.
Luật Địa chất và khoáng sản cũng nêu rõ, khi tổ chức, cá nhân thực hiện dự án đầu tư tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia phải đánh giá mức độ ảnh hưởng đến khoáng sản thuộc đối tượng dự trữ trong phạm vi dự án đầu tư theo quy định. Thời điểm đánh giá được thực hiện trong giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi hoặc báo cáo đề xuất chấp thuận chủ trương đầu tư dự án.
Trường hợp khi triển khai thi công các hạng mục công trình của dự án đầu tư tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia mà bắt buộc phải san gạt, đào đắp bề mặt địa hình, tác động trực tiếp đến khoáng sản dự trữ thì tổ chức, cá nhân thực hiện dự án đầu tư phải báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND cấp tỉnh nơi có dự án để tổ chức kiểm tra, quyết định việc cho phép thu hồi hoặc không thu hồi khoáng sản.

UBND cấp tỉnh nơi có dự án đầu tư quy định xem xét cấp giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản. Đối với khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND cấp tỉnh xem xét cấp giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản sau khi được Bộ Nông nghiệp và Môi trường chấp thuận bằng văn bản.
Bàn luận về nội dung này, TS.Vũ Mạnh Hào cho biết: “Mức độ ảnh hưởng, xác định ảnh hưởng đến
Thứ hai, trong trường hợp mà bắt buộc phải san gạt, phải tác động làm mất đi tài nguyên của khoảng sản dự trữ thì chủ đầu tư thực hiện dự án có thể đề xuất với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Ủy ban nhân dân tỉnh, đề xuất thu hồi tại khu vực, ở vị trí bị tác động”.

Liên quan đến việc bồi thường thiệt hại khu dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động tại khu vực dự trữ khoáng sản, cũng được các tổ chức, doanh nghiệp quan tâm, bàn luận.
Thì Luật Địa chất và khoáng sản cũng quy định rõ, theo đó, tại điều 34 quy định: Trường hợp Thủ tướng Chính phủ giảm diện tích khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia, giảm thời gian dự trữ khoáng sản quốc gia để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh hoặc dự án quan trọng quốc gia dẫn đến phải thu hồi một phần hoặc toàn bộ đất dự án đầu tư thì chủ đầu tư dự án tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia được bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về đất đai.
Nhà nước không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chủ đầu tư dự án tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia khi đã hết thời gian dự trữ khoáng sản theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.