Họa sĩ Nguyễn Tuấn Sơn - Khi người tuổi Ngựa vẽ ngựa
Là người tuổi Ngựa, họa sĩ Nguyễn Tuấn Sơn (Sơn Kiều) dành gần như trọn hành trình sáng tác của mình để đối thoại với hình tượng con ngựa - không chỉ như một linh vật quen thuộc trong mỹ thuật phương Đông, mà như một ẩn dụ về số phận, khát vọng và thân phận con người. Từ những chiến mã trong “Truyện Kiều” đến những dáng ngựa trừu tượng mang nỗi cô đơn, khắc khoải và bứt phá. Trao đổi với Báo Pháp luật Việt Nam nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, họa sĩ Nguyễn Tuấn Sơn đã chia sẻ những suy tư sâu sắc xoay quanh con ngựa, “Truyện Kiều” và hành trình sáng tạo cá nhân.
- Là người tuổi Ngựa, lại dành nhiều tâm huyết cho hình tượng con ngựa trong hội họa, ông có thấy giữa số mệnh, tính cách của mình và con ngựa có một sự “đồng điệu” đặc biệt nào không?
- Tôi sinh năm 1978 tuổi Mậu Ngọ (Thiên Thượng Hỏa), năng động, chính trực. Tôi yêu cái đẹp, văn hóa lịch sử từ khi rất bé, nhưng có khát vọng mong muốn giao lưu học hỏi, thích giao tiếp và ngoại giao. Sự yêu thích văn hóa, lịch sử có thể xuất phát từ tư duy logic và ý chí mạnh mẽ. Tất cả các tố chất trên rất gần gũi, đồng điệu với tính cách của chiến mã với những hình ảnh Kiều sánh cương cùng Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải… Tôi chọn trường phái trừu tượng biểu hiện để vẽ “Truyện Kiều” nhằm thoát khỏi sự áp đặt hình ảnh hiện thực trần trụi, đồng thời tạo ra sự đồng cảm sâu sắc về tính biểu tượng của nhân vật.
- Trong tranh của Nguyễn Tuấn Sơn, con ngựa thường không chỉ là hình ảnh tả thực mà mang nhiều tầng ý nghĩa biểu tượng. Với ông, con ngựa đại diện cho điều gì sâu xa nhất: tự do, khát vọng hay số phận con người?
- Trong tranh của tôi, hình tượng con ngựa thường không chỉ tả thực mà còn mang tầng nghĩa biểu tượng sâu sắc, đại diện cho số phận con người. Ngựa trong tác phẩm của tôi thường hiện lên với sự khắc khoải, cô đơn hay mạnh mẽ vượt qua những thử thách, tương phản với những bối cảnh trừu tượng, thể hiện sự đối thoại giữa con người và định mệnh, cùng những khát vọng, nỗi niềm thầm kín trong cuộc sống. Sự khắc khoải và số phận là hình ảnh ngựa không phải lúc nào cũng oai phong mà mang dáng vẻ suy tư, khắc khoải, phản ánh những trăn trở, thăng trầm của kiếp người. Sự đối thoại với cuộc đời con ngựa trong tranh tôi thường xuất hiện đơn độc hoặc trong bối cảnh không gian, thời gian mơ hồ, như một biểu tượng của sự cô đơn, nỗi niềm tâm sự của con người trước cuộc đời với những hình ảnh hình tượng như Từ Hải… Nghệ thuật thăng hoa hình ảnh con ngựa được đẩy lên thành một ngôn ngữ nghệ thuật riêng, vừa mạnh mẽ, vừa mong manh, tượng trưng cho những trạng thái tâm lý và số phận khác nhau. Tôi không chỉ vẽ ngựa, mà tôi vẽ những tâm cảnh, những câu chuyện về sự sinh tồn, khát vọng và số phận nhân sinh.

- Ông thường bắt đầu một bức tranh ngựa từ cảm xúc, ký ức hay từ một quan sát rất đời thường? Có khoảnh khắc nào về con ngựa trong đời sống khiến ông nhớ mãi và đưa vào tranh, đặc biệt là ngựa trong tranh Kiều?
- Việc sáng tác tranh ngựa thường khởi nguồn từ sự kết hợp giữa cảm xúc sâu sắc về vẻ đẹp, ký ức hoài niệm và quan sát tinh tế những khoảnh khắc đời thường, tạo nên hồn cốt cho tác phẩm. Trong bối cảnh tranh Kiều, hình ảnh con ngựa được đẩy lên thành biểu tượng, mang chở tâm trạng nhân vật hoặc những ngụ ý sâu xa về cuộc đời. Khoảnh khắc ngựa trong đời sống và tranh Kiều. Khoảnh khắc đáng nhớ những hình ảnh ngựa gắn liền với thiên nhiên tự do hoặc tình nghĩa con người, chẳng hạn như hình ảnh chú ngựa hoang với bộ lông óng ánh hay khoảnh khắc ngựa thấu hiểu và biểu lộ cảm xúc cùng chủ nhân. Trong tranh Kiều: Ngựa không chỉ là phương tiện di chuyển mà thường được khắc họa trong các cảnh tượng mang tính biểu tượng cao.
Biểu tượng ngựa gắn liền với hình ảnh trai tài, gái sắc - Tháng ba, tiết Thanh Minh mọi người rủ nhau đi tảo mộ đông đúc như những đàn chim én, đông tới mức “Ngựa xe như nước, áo quần như nêm” nối tiếp nhau hết lớp này đến lớp khác như nước chảy. Ba chị em Thúy Kiều đi tảo mộ, khi về gặp nấm mộ bên đường “hương khói vắng tanh” Thúy Kiều thương tâm thắp hương khấn vái, làm thơ vịnh người dưới mộ, quên là đến lúc phải về, bóng chiều đã xuống và hai em thôi thúc. Khi còn đang dùng dằng thì “Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần”. Đó là tiếng nhạc ngựa của văn nhân cũng đi thanh minh “lỏng buông tay khấu”, thong thả tiến lại phía chị em Kiều. Văn nhân hào hoa, phong nhã, ngồi trên con ngựa rất sung sức “Tuyết in sắc ngựa câu giòn”.
Khi lầu xanh, Kiều gặp khách làng chơi hào phóng, tốt bụng. Thúc Sinh say đắm tài sắc Thúy Kiều. Thúc đã chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, lấy nàng làm vợ lẽ, dù cha chàng không ưng thuận và kiện chàng ra chốn cửa quan. Cảm phục tài sắc của Kiều, quan xử kiện cho Thúc lấy Kiều. Hai người chung sống một thời gian, Thúc về thăm vợ cả là Hoạn Thư, “Người lên ngựa, kẻ chia bào”.

Nguyễn Tuấn Sơn.
Biểu tượng ngựa gắn với những anh hùng tráng trí, hạnh phúc viên mãn và thành công - Biết Hoạn Thư rình rập theo dõi, Giác Duyên gả Kiều cho Bạc Hạnh là con của Bạc Hà. Ngờ đâu Bạc Hà lại đưa Kiều vào lầu xanh lần thứ hai. Tại đây Thúy Kiều gặp Từ Hải, một đấng anh hùng hàm én, mày ngài. Say về tài sắc, cảm phục tâm tình của Thúy Kiều, Từ Hải chuộc Kiều, lấy nàng làm vợ. Khi Từ Hải “Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng giong”, Thúy Kiều ở nhà ngóng trông. Từ Hải chiến thắng trở về, đám cưới nàng “Từ công ra ngựa thân nghênh cửa ngoài...”
- Giữa đời sống mỹ thuật đương đại với nhiều trào lưu mới, ông làm thế nào để giữ được cá tính riêng khi trung thành với một đề tài tưởng như quen thuộc là con ngựa?
- Việc giữ cá tính riêng khi trung thành với đề tài con ngựa trong mỹ thuật đương đại được thực hiện thông qua việc tái định nghĩa hình tượng bằng ngôn ngữ tạo hình mới. Bằng cách kết hợp hình tượng ngựa truyền thống với phong cách biểu hiện/trừu tượng, các tác phẩm tạo nên “mâu thuẫn có lý”, giúp tải ý nghĩa mới, gần gũi với hơi thở đương đại thay vì chỉ minh họa lại những hình mẫu quen thuộc. Cụ thể, các phương pháp bao gồm: Đưa hình tượng con ngựa vào các chất liệu như sơn mài, gốm với màu sắc lộng lẫy và chiều sâu, mang lại cái nhìn mới lạ dù đề tài cũ; Sử dụng các đường nét cách điệu, tối giản, biểu hiện hoặc trừu tượng hóa con ngựa để phản ánh nhịp sống, tâm trạng hoặc các vấn đề xã hội hiện đại; Thay vì tả thực, tôi chú trọng vào việc biểu đạt nhịp điệu, tâm trạng và “khoảng trống” siêu hình, tạo ra dấu ấn riêng biệt; Tận dụng hơi thở trẻ trung, sự giao thoa văn hóa để đưa con ngựa vào không gian sống đương đại, thu hút khán giả hiện đại. Bằng việc tập trung vào “chất lượng sáng tạo” thay vì chỉ dựa vào danh tiếng hay sự mô phỏng quá khứ, nghệ sĩ có thể khẳng định dấu ấn riêng trong bối cảnh nghệ thuật hội nhập.

- Nhân dịp Xuân Giáp Ngọ, ông muốn gửi gắm điều gì qua những bức tranh ngựa của mình tới công chúng, đặc biệt là những người trẻ đang trên hành trình tìm kiếm tự do và bản sắc sáng tạo?
- Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, tôi gửi gắm thông điệp về sự tự do, bứt phá và sáng tạo không khuôn mẫu. Các tác phẩm khuyến khích người trẻ tìm kiếm bản sắc riêng, sống phóng khoáng, tự tin thể hiện cá tính độc bản và khởi đầu năm mới đầy sinh khí. Thứ nhất, là các điểm nhấn thông điệp sáng tạo không giới hạn: Hình khối ngựa mộc mạc, sắc ngẫu hứng và không theo bất kỳ quy chuẩn nào, tượng trưng cho tinh thần sáng tạo thuần khiết, phá bỏ rào cản. Thứ hai, Bản sắc cá nhân (cá tính riêng): mỗi chú ngựa là một cá tính riêng, có “chỗ đứng” riêng, mang đến cảm xúc khác nhau khi thưởng lãm. Thứ ba, Tinh thần tự do: Ngựa chẳng màng yên cương, tượng trưng cho sự phóng khoáng, tự do và bứt phá, phù hợp với hành trình tìm kiếm bản thân của thế hệ trẻ. Cuối cùng, Kết hợp truyền thống và hiện đại: Kết hợp cùng chất liệu sơn mài, vừa gần gũi, vừa mới lạ, thể hiện sự tiếp nối văn hóa với ngôn ngữ nghệ thuật đương đại.
- Trân trọng cảm ơn ông!