Có những thanh xuân làm nên đất nước
Trong mỗi người Việt Nam đã đi qua khói lửa chiến tranh và mỗi người Việt Nam được sinh ra, lớn lên trong hòa bình, vào những ngày đất nước đang hòa chung một niềm vui Tết Độc lập 2/9 này, đều ngân nga trong mình những câu thơ: “Đất nước là máu xương của mình/Phải biết gắn bó san sẻ/Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở/Làm nên đất nước muôn đời”… Nước Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền, độc lập 80 năm, đã thống nhất toàn vẹn 50 năm, nhưng hình ảnh những cựu chiến binh, thương binh, thân nhân liệt sĩ với sự hy sinh lặng lẽ nhưng đầy cao cả cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc chưa bao giờ bị lãng quên.
“Hãy đứng lên cùng lịch sử, đất nước này là của chúng ta”
Năm 2025, Bảo tàng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (trước đây là Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam) nhận các kỷ vật, hiện vật mà gia đình liệt sĩ Trần Quang Long hiến tặng, trong đó đặc biệt có hơn 50 lá thư ông viết cho vợ và hơn 20 lá thư của vợ ông là bà Quỳnh Như viết cho chồng.
Theo thông tin từ Bảo tàng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, liệt sĩ Trần Quang Long nguyên quán làng Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội, sinh ngày 6/2/1941 tại Huế. Ông học phổ thông tại Trường Quốc học Huế và theo học Ban Việt văn Trường Đại học Sư phạm Huế. Ông ra trường vào cuối năm 1965, ông trở thành thầy giáo tại Trường Trung học Cường Để, Quy Nhơn. Ông vừa dạy học, vừa thảo truyền đơn, viết biểu ngữ chống chiến tranh, kêu gọi hòa bình.
Năm 1967, ông chuyển vào dạy học ở Trường Trung học Phan Thanh Giản, Cần Thơ, được Tổng hội Sinh viên Sài Gòn mời làm ủy viên văn nghệ và làm Chủ tịch sáng lập Hội Sinh viên sáng tác, chuẩn bị cho sự ra đời của tuyển tập thơ “Tiếng hát những người đi tới”. Cũng thời gian này, ông là người chủ trương hoặc tham gia biên tập nhiều tờ báo của phong trào đấu tranh chống chính quyền Sài Gòn như: Sinh viên Huế, Đất Mới, Sinh viên Sài Gòn hoặc cộng tác với các tờ báo ở Sài Gòn lúc bấy giờ như: Tin Văn, Đất Nước, Hành Trình...

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968, ông rời Sài Gòn ra vùng giải phóng tiếp tục hoạt động cách mạng. Ngày 11/10/1968, ông hy sinh tại Tây Ninh trong một cuộc tập kích của máy bay Mỹ vào căn cứ của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam. Tên ông nay đã được đặt tên đường tại TP Hồ Chí Minh, Huế và Đà Nẵng.
Theo Bộ Nội vụ, cả nước hiện có hơn 9,2 triệu người có công với cách mạng. Trong đó, có gần 1,2 triệu liệt sĩ, gần 500.000 thân nhân liệt sĩ, khoảng 140.000 Mẹ Việt Nam Anh hùng, gần 600.000 thương binh và người hưởng chính sách như thương binh. Chính sách ưu đãi người có công luôn được đặt ở vị trí ưu tiên trong các quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước. Hơn 1,2 triệu người có công và thân nhân đang được hưởng chế độ ưu đãi hằng tháng; trên 98,6% hộ gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình tại địa phương. Tại Chương trình gặp mặt, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh, “người có công với cách mạng là tài sản quý báu của dân tộc”, là biểu tượng thiêng liêng của lòng yêu nước và đạo lý Việt Nam. Công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” không chỉ là một chính sách lớn, mà còn là mệnh lệnh từ trái tim, trách nhiệm chính trị, đạo lý của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Nội dung
Cùng với những vần thơ cháy bỏng nhiệt huyết cách mạng, có sức kêu gọi mạnh mẽ đối với học sinh, sinh viên và trí thức, ông Trần Quang Long còn có một tình yêu thật đẹp với bà Tôn Nữ Quỳnh Như (tên gọi khác là Ngọc, con gái của cố GS.Tôn Thất Dương Kỵ). Hơn 50 lá thư ông viết cho vợ và hơn 20 lá thư của bà Quỳnh Như viết cho chồng được hiến tặng cho bảo tàng, vẫn vẹn nguyên tình yêu lứa đôi hòa quyện trong tình yêu Tổ quốc, khát vọng hòa bình, độc lập với lý tưởng sống cao đẹp. “Đôi lúc anh còn có mặc cảm phạm tội, khinh bỉ mình khi nghĩ rằng mình đã không chia sẻ đúng mức sự hy sinh gian khổ của những người chung quanh... Chúng mình có ích kỷ quá không?”, trong lá thư gửi vợ ngày 13/11/1967 Trần Quang Long bày tỏ sự day dứt về trách nhiệm đối với đất nước.
Trần Quang Long luôn mong muốn làm được thật nhiều việc có ý nghĩa cho đất nước. Suy nghĩ đó đã thể hiện trong bài thơ ông sáng tác để đáp lại bài thơ “Cảm tác” của học trò: “…Hãy đứng lên cùng lịch sử/Đất nước này là của chúng ta/Tôi nguyện cầu bằng trái tim nóng đỏ/Cho ngày mai rộn khúc hoan ca/Cho ta lớn lên trong niềm tin đó/Cho đất nước mình mai nở nhiều hoa”.
Tháng 5/1968, bà Quỳnh Như sinh con trai Trần Xuân Thắng khi đang bị địch bắt giam vì hoạt động cách mạng. Tháng 10/1968, ông Trần Quang Long anh dũng hy sinh khi chưa kịp nhìn thấy mặt con, chưa gặp lại vợ. Nhưng nhiệt huyết cách mạng của ông như ngọn đuốc lan tỏa mạnh mẽ trong phong trào yêu nước của học sinh, sinh viên và trí thức lúc bấy giờ.
“Không ai nhớ mặt đặt tên, nhưng họ đã làm ra đất nước”
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong bài thơ “Đất nước” đã viết những câu thơ về những người con gái, con trai: “Họ đã sống và chết/Giản dị và bình tâm/Không ai nhớ mặt đặt tên/Nhưng họ đã làm ra đất nước”. Những câu thơ này một lần nữa đã vang lên tại Chương trình gặp mặt 250 đại biểu người có công, nhân chứng lịch sử năm 2025 do Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp tổ chức ngày 24/7/2025 kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7/2025.
Tại buổi lễ, ông Lê Đức Luân, cựu chiến binh từng là chiến sĩ pháo cao xạ thuộc Sư đoàn Phòng không - Không quân 367 xúc động chia sẻ về những ngày tháng chiến đấu cam go, ác liệt: “Tôi đã tham gia kháng chiến, bắn rơi một số máy bay F105 của địch, đó là loại thần sấm của Mỹ lúc bấy giờ. Đánh xong một trận, chúng tôi tiếp tục nhận lệnh của cấp trên đi sâu vào trong để chuẩn chiến dịch Hồ Chí Minh sắp tới. Chúng tôi di chuyển vào đúng thời điểm ký Hiệp định Paris năm 1973. Đường tuyến lúc ấy rất khó khăn, xe kéo pháo rất nặng, đường đi rất trơn trượt. Trên trời là máy bay địch, trên đường là biệt kích, phục kích của địch”, ông Luân kể.

Ngồi trên ô tô di chuyển làm nhiệm vụ, ông Luân bị máy bay địch ném bom trúng, bị thương nặng. Sau đó là hành trình chuyển thương binh đầy vất vả, cam go, đến mức khi ông Luân được chuyển đến Bệnh viện Quân y 110 từ cân nặng 65kg, chỉ còn 37kg với chiều cao 1m70, người tong teo, thương tật 92%.
Kể từ đó, ông Lê Đức Luân đã có 50 năm gắn bó với Trung tâm điều dưỡng thương binh Thuận Thành, Bắc Ninh. “Ở đây, anh em đồng đội chúng tôi động viên nhau cố gắng vượt qua. Mình bị thương nặng nhưng có nhiều anh em còn bị nặng hơn. Chúng tôi động viên nhau học thêm nghề, người học nghề sửa tivi, điện tử, người học viết báo, làm thơ kiếm thêm thu nhập, lấp đi niềm đau lúc trái gió trở trời, bệnh tật, tìm thấy niềm vui của cuộc sống”, ông Luân kể.
Là một người đã hiến dâng thanh xuân, máu xương cho Tổ quốc, thương binh Lê Đức Luân mong muốn thế hệ trẻ cố gắng học tập, nghiên cứu, phát huy thật tốt để đưa đất nước sánh vai với cường quốc năm châu, bởi đó cũng chính là cách thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đến hàng triệu người đã hy sinh vì hòa bình, độc lập của dân tộc.
Ngồi cạnh ông Lê Đức Luân trong buổi lễ, người cựu chiến binh 71 tuổi Lê Xuân Chinh - nhân vật trong bức ảnh “Nụ cười chiến thắng bên Thành cổ Quảng Trị” của nhà báo Đoàn Công Tính đỏ hoe đôi mắt khi nhắc đến đồng đội của mình. “Chúng tôi 10 anh em cùng quê nhập ngũ chung một ngày, nhưng chỉ có 5 người trở về. Năm nào cũng vậy, cứ đến tháng 7, chúng tôi lại trở lại Quảng Trị, đến Thành cổ cúng cơm cho đồng đội. Năm nào chúng tôi cũng ôm nhau khóc vì nhớ thương những người bạn đã cùng vào sinh ra tử. Chúng tôi nguyện rằng chỉ khi nào sức khỏe không cho phép, thì chúng tôi mới dừng hành trình tìm về chiến trường xưa vào mỗi tháng 7 về”, ông Chinh khẳng định.
Bức ảnh “Nụ cười chiến thắng bên Thành cổ Quảng Trị” được chụp buổi sáng ngày 15/8/1972 ghi lại hình ảnh các chiến sĩ cười nói vui vẻ trong phút dừng bắn hiếm hoi giữa hai trận đánh tại Thành cổ Quảng Trị trong trận chiến 81 ngày đêm giữa mùa hè đỏ lửa. Nhà báo Đoàn Công Tính đã từng kể lại rằng: “Tôi đã từng chụp hình ảnh lúc Thành cổ mới giải phóng, Dinh Tỉnh trưởng còn nguyên vẹn. Còn lúc này Thành cổ ngày 15/8/1972, Dinh Tỉnh trưởng đã nát tan tành và Thành cổ cũng sụp lở như vừa qua một trận động đất lớn. Chỉ còn nụ cười của những người chiến sĩ bảo vệ Thành cổ là còn nguyên vẹn và rạng rỡ. Anh em nói khi tôi đưa ống kính lên: “Có thể ngày mai đây một số anh em chúng tôi không còn nữa, nhưng Thành cổ sẽ sống mãi trong lịch sử vinh quang của đất nước”. Tôi đã say mê bất chấp bom đạn để giành giật những bức ảnh từ tay thần chết, những hình ảnh sống và chiến đấu vừa bình dị, vừa oai hùng của các chiến sĩ trẻ. Trong số những bức ảnh đó, bức ảnh ghi lại khoảnh khắc hiếm hoi với nụ cười lạc quan của Lê Xuân Chinh và đồng đội đã phản ánh đúng tinh thần của người lính quyết tử cho Thành cổ đứng vững”.
Cũng theo nhà báo Đoàn Công Tính, sau được đăng trên Báo Nhân Dân đúng dịp 2/9/1972 cách đây gần 53 năm đã rất nổi tiếng. Nhưng suốt một thời gian dài, không ai rõ người lính có nụ cười rạng rỡ trong bức ảnh còn sống hay đã hy sinh. Phải đến năm 2002, khi người bạn cùng quê với ông Lê Xuân Chinh đến thăm Thành cổ vào Bảo tàng Thành cổ và nhìn thấy bức ảnh đã kêu lên: “Đây là anh Lê Xuân Chinh bạn cùng xóm với tôi, anh vẫn còn sống”. Người đó cho biết ông Lê Xuân Chinh đã đi kinh tế mới ở tỉnh Điện Biên. Thông tin đến được với nhà báo Đoàn Công Tính và sau đó diễn ra cuộc hội ngộ bất ngờ, có cả nước mắt và nụ cười giữa người chụp và người được chụp.
Rưng rưng nhìn lại bức ảnh chụp mình và đồng đội trên màn hình lớn của Chương trình gặp mặt 250 đại biểu người có công, nhân chứng lịch sử năm 2025, ông Lê Xuân Chinh nhớ lại khoảnh khắc nở nụ cười giữa bom đạn chiến tranh: “Khi đó điều lớn lao nhất mà chúng tôi nghĩ tới là sự tin tưởng vào ngày mai sẽ giành được thắng lợi”, ông Chinh cho biết.
“Được Nhà nước chăm lo là điều hạnh phúc lớn nhất cuộc đời tôi”
Trong số 250 đại biểu về dự Chương trình gặp mặt đại biểu người có công, nhân chứng lịch sử năm 2025 có thương binh Hoàng Xuân Đức 72 tuổi, quê Quảng Trị, nhập ngũ năm 1978, khi vừa tròn 20 tuổi, là lính công binh thuộc đơn vị E25, trực thuộc Quân khu 9, tham gia chiến đấu tại chiến trường Campuchia. “Chúng tôi là thương binh thuộc thế hệ sau, tham gia chiến đấu tại chiến trường Campuchia những năm 1980. Tôi bị thương, mất một chân, đi lại khó khăn. Nhưng so với những đồng đội đã hy sinh, thì mình vẫn còn may mắn hơn nhiều. Hôm nay được có mặt tại đây, gặp lại các đồng chí, đồng đội và đặc biệt là nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đó là điều hạnh phúc lớn nhất cuộc đời”, ông Hoàng Xuân Đức chia sẻ.