Chăn bông hồi xưa - ai còn nhớ, ai đã quên!

Chăn bông hồi xưa - ai còn nhớ, ai đã quên!
Những người bà, người mẹ sau phiên chợ Tết ở làng quê thời bao cấp. (Ảnh minh họa: Internet)

Trong ký ức của nhiều người Việt từng qua thời bao cấp, chiếc chăn chần bông là “tài sản lớn” của mỗi gia đình. Những mùa đông mưa phùn, gió bấc, rét buốt cắt da, chăn bông đã ủ ấm qua bao mùa gian khó...

“Gia tài” - kỷ vật gia đình

Với thế hệ 7x, 8x, tuổi thơ đi qua những mùa đông dài và lạnh. Đó là những năm tháng đất nước còn nhiều khó khăn, đời sống thiếu thốn, khi chiếc chăn bông không chỉ là vật dụng sinh hoạt mà là cả một “gia tài” của mỗi gia đình. Ký ức về chăn bông vì thế gắn liền với cảm giác vừa rét mướt, vừa ấm áp, cái ấm của hơi người, của tình thân và sự chở che.

Chăn bông thời bao cấp thường được chần tay. Đó không chỉ là kỹ thuật, mà là một nghề, nghề bật bông, nghề chần chăn, từng nuôi sống biết bao gia đình ở Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng một thời. Những chiếc chăn dày cộm, nặng tay được làm thủ công từ bông gạo, bông tự nhiên, bọc vải màn hay vải thô. Không hoa văn cầu kỳ, không màu sắc rực rỡ, chỉ vài gam màu giản dị: trắng ngà, xanh sẫm, nâu đất. Nhưng chính sự mộc mạc ấy lại chứa đựng cả một đời người.

Thời ấy, nhà nào có được chiếc chăn của Dệt Nam Định đã là quý lắm. Có khi cả cơ quan, xí nghiệp chỉ được phân vài chục bộ vỏ chăn may sẵn ba cạnh rưỡi, chừa một cạnh để nhồi bông. Bông phát về đã được làm khô, bật tơi. Người ta cân bông, nhồi vào vỏ, khâu nốt cạnh còn lại, rồi dùng thước gỗ dài hơn hai mét dàn cho bông trải đều.

Sau đó là công đoạn chần, công đoạn quan trọng nhất, quyết định “số phận” chiếc chăn. Người thợ giỏi luôn được giao chần đường chéo đầu tiên, gọi là đường “bổ”. Kim chần dài đến hơn gang tay, đê đeo ở ngón giữa, lọ penicillin cũ đựng dầu máy để làm trơn kim. Mỗi mũi kim cách nhau chừng hai, ba phân, mũi lên mũi xuống sát rạt, chắc nịch. Khi chần xong, bề mặt chăn nổi lên những hình quả trám đều đặn. Đập thước gỗ cho bụi bay bớt, gấp lại, xếp gọn, thế là hoàn thành một “tài sản” lớn.

Chăn bông không chỉ dùng để đắp. Ngày đông mưa phùn, gió bấc, các bà nấu cơm xong là xới ngay vào liễn sứ, cặp lồng, quấn giấy báo cũ, bọc thêm một lớp chăn chiên, rồi ủ trong chăn bông. Con cháu đi học, đi làm về, mở ra cơm vẫn còn nóng hổi. Không ít người nhớ mùi cơm ủ trong chăn bông, cùng mùi giấy báo cũ, mùi bông ngai ngái, thứ mùi mà sau này, giữa vô vàn tiện nghi, không bao giờ tìm lại được nữa...

Thời ấy, cùng với chăn bông là chăn chiên, giấc mơ của bao gia đình tập thể. Chăn chiên có loại mỏng, nhẹ, mướt như nhung; có loại thô, ráp tay nhưng bốc thăm mua được vẫn mừng rơi nước mắt. Tối đến, cả nhà rúc chung một tấm chăn, tiếng thì thầm rúc rích, ấm áp đến nao lòng. Chăn chiên cũ không bao giờ vứt đi. Nó được cắt làm giẻ lau, làm bấc đèn dầu, làm tấm lót bàn là, ủ nồi ngô, ủ bánh. Không thứ gì bị bỏ phí.

Nhắc chuyện chăn thời xưa còn phải nhắc đến vỏ chăn con công, niềm mơ ước của mọi đôi trẻ khi bước vào cuộc sống vợ chồng. Vỏ chăn in hình con công sặc sỡ, bọc ruột bông ba cân, năm cân, làm chiếc giường cưới bừng sáng. Có thời, giá trị của một bộ chăn con công cũng ngang vài chỉ vàng. Nhiều gia đình giữ gìn cả đời, dù màu sắc đã bạc, mặt vải vẫn mịn mượt, như lưu giữ nguyên vẹn hơi ấm của những năm tháng vợ chồng.

Có được chiếc chăn ấm trong nhà là bao tảo tần của người mẹ trong gia đình đổi tem phiếu, hay bằng một cách chắt chiu qua nhiều năm tháng lo toan nào đó... Thời gian trôi qua, những đứa trẻ lớn lên, mang theo những mùa đông ấm, những lo toan của cha mẹ, để biết trân trọng cuộc sống mỗi ngày.

Dường như, những chiếc chăn bông khi ấy không chỉ là vật dụng sinh hoạt, mà là chỗ dựa tinh thần. Nó chứng kiến sự san sẻ chan chứa tình thương: nhà có chăn dày, ấm thường nhường cho người già, trẻ nhỏ. Mùa đông cũng ấm hơn không chỉ bởi có những chiếc chăn bông mà còn có tình người sẻ chia.

…Và những miền nhớ

Những ngày giáp Tết, khi gió mùa Đông Bắc rét mướt cùng mưa phùn, cái rét miền Bắc với nỗi ám ảnh “mưa phùn, gió bấc”. Rét không chỉ nằm trên da thịt, mà len lỏi vào ký ức, khơi dậy những miền nhớ tưởng như đã xa lâu lắm.

Tôi sống với bố từ nhỏ, lớn lên giữa những khu tập thể quân đội, nơi tiếng kẻng báo giờ vang lên đều đặn mỗi ngày, nơi chiếc radio rè rè phát bản tin thời sự, một chiếc ti vi đen trắng cả xóm quây quần mỗi tối. Bởi sống cùng toàn người lớn nên mỗi dịp Tết, niềm háo hức lớn nhất của tôi là được theo bố về quê để được chạy nhảy, nô đùa cùng lũ trẻ. Hành trình khi ấy không hề ngắn: những chuyến tàu chậm rì rì, những chiếc xe ô tô cũ của đơn vị lắc lư qua từng chặng đường gập ghềnh, mang theo mùi dầu máy, mùi quần áo cũ và cả mùi mong ngóng.

Ký ức 
chăn bông thời xưa. 
(Ảnh: FBTT)
Ký ức chăn bông thời xưa. (Ảnh: FBTT)

Từ thị xã nhỏ miền Trung ngày ấy, bố và chú lại đèo tôi bằng chiếc xe đạp ê mông, băng qua những cánh đồng hun hút gió. Mưa xuân sụt sùi, gió lạnh lùa buốt tai. Ông bà đã mất từ sớm, chúng tôi thường về ăn Tết nhà họ hàng. Đám trẻ con trong làng chờ tôi về như chờ một cuộc đoàn tụ. Đêm miền Trung càng về khuya càng lạnh. Gió luồn qua vách nứa, khe cửa, rít lên từng hồi, như lời thì thầm của một mùa đông dài, đơn sơ ngày ấy.

Trời lạnh đến nỗi, những ngày giáp Tết, chưa đến tối gói bánh chưng, nhiều gia đình đã đốt một đống lửa giữa nhà để sưởi ấm. Trên những chiếc giường tre ọp ẹp là những tấm chăn bông đã vón cục, lạnh ngắt vì không phải nhà nào cũng đủ điều kiện sắm được một chiếc chăn mới. Có nhiều nhà, trong những mùa đông giá buốt, còn dùng những chiếc “đệm” bằng rơm rạ để thêm chút ấm áp. Trong cái rét ấy, con người nương vào nhau mà sống, mà thương.

Ngày ấy, trong rét mướt Giêng, Hai, dù biết hết Tết là các gia đình lại khoai sắn độn cơm, cả năm chi tiêu dồn vào ba ngày Tết. Tết được các bà, các mẹ chuẩn bị từ lạng miến, củ hành từ vài tháng trước đó. Để rồi, Tết đến, nhà nào cũng để sẵn vài mâm cơm, có khách đến chúc Tết là bê xuống ăn bất kể giờ nào. Ngày ấy, Tết thực là ăn Tết. Nhưng qua Tết, là những ngày đói giáp hạt đến se lòng. Trong vòng quay thiếu thốn ấy, chiếc chăn bông vẫn âm thầm làm tròn nhiệm vụ của mình: giữ ấm cho con người, cho hy vọng, cho niềm tin rằng rồi cái lạnh cũng sẽ qua. Như sau này, những đứa trẻ lớn lên mang theo nhiều yêu thương, lòng trắc ẩn, cùng niềm tin và sự kiên cường trước nhiều sóng gió cuộc đời, rằng điều gì rồi cũng sẽ qua...

Tết lại về, trong cái rét lưng chừng của mùa đông cuối năm, ký ức về những chiếc chăn chần bông thời bao cấp lại khẽ khàng trở lại, trìu mến. Không còn nặng trĩu trên vai đời sống hôm nay, nhưng hơi ấm của mùa đông thơ ấu vẫn ở đó, trong ký ức, trong tình thân, trong những giá trị giản dị mà bền bỉ đã nuôi dưỡng con người qua bao mùa thiếu thốn. Thương nhớ những chiếc chăn chần bông, thương một thời vất vả mà chan chứa yêu thương, một thời rét mướt mà lòng người chan chứa, chứa chan đến thế...

Là một phần ký ức đẹp đẽ vẫn còn nguyên ở đó, khi ta nhìn lại với tất cả luyến lưu... Đó là hơi ấm của sự chắt chiu, của tình thân đùm bọc, của những mùa đông nghèo khó mà con người nương tựa vào nhau để sống. Và mỗi độ Tết đến, Xuân về, ký ức ấy vẫn âm thầm sưởi ấm lòng người, như một phần không thể thiếu của quá khứ, của cội nguồn, của lòng biết ơn những tháng ngày nồng ấm, chan chứa đến thế...

Miên Thảo