Cần rà soát số doanh nghiệp nông sản đang thực hiện liên kết chuỗi đúng nghĩa

Cần rà soát số doanh nghiệp nông sản đang thực hiện liên kết chuỗi đúng nghĩa
Với lĩnh vực chế biến, Bộ NN&MT đánh giá năng lực công nghệ của nhiều nhà máy Việt Nam đã ở mức cao, thuộc nhóm dẫn đầu khu vực. (Ảnh: V.Sơn)

Hôm qua, 4/3, tại Hội nghị tổng kết công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm (CLATTP), chế biến và phát triển thị trường năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026, Thứ trưởng Bộ NN&MT Trần Thanh Nam nhận định, điểm nhấn trong năm qua là việc chuyển mạnh phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ kiểm tra theo kế hoạch sang kiểm tra đột xuất, tập trung vào các thời điểm nhạy cảm. Cơ quan chức năng đã kiểm tra 11.911 cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp và nông, lâm, thủy sản; xử phạt 549 cơ sở tổng số hơn 15,6 tỷ đồng.

Các đoàn kiểm tra liên ngành được tổ chức tại nhiều địa phương trọng điểm; công tác tuyên truyền, vận động sản xuất, kinh doanh nông sản an toàn được phối hợp chặt chẽ. Chuỗi cung ứng tại các địa bàn lớn được rà soát thường xuyên nhằm bảo đảm minh bạch, truy xuất được nguồn gốc.

Ông Ngô Hồng Phong, Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (CL,CB&PTTT) cho biết, hầu hết thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý CLATTP đã được phân cấp cho địa phương giải quyết. Bộ tập trung vào ban hành hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, xử lý các vấn đề liên vùng, liên ngành hoặc tính chất phức tạp.

Tại Hội nghị, lãnh đạo Bộ nhấn mạnh trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi sản xuất - kinh doanh, từ DN , hiệp hội đến chính quyền địa phương. Lãnh đạo Bộ nhấn mạnh nguyên tắc cốt lõi: quản lý CLATTP phải dựa trên hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và truy xuất nguồn gốc. Cơ quan quản lý vẫn nhận được cảnh báo từ một số thị trường xuất khẩu về việc DN dù có chứng nhận quốc tế như HACCP, ISO nhưng vẫn vi phạm quy định. Điều này cho thấy khâu tuân thủ và giám sát tại cơ sở, tại địa phương có lúc còn lơi lỏng.

Với lĩnh vực chế biến, ông Nam đánh giá năng lực công nghệ của nhiều nhà máy Việt Nam đã ở mức cao, thuộc nhóm dẫn đầu khu vực. Vì vậy, cơ quan quản lý không cần đi sâu vào "công nghệ nào", mà cần tập trung kiểm soát tiêu chuẩn, quy chuẩn và điều kiện sản xuất.

Năm 2026, bên cạnh hoàn thiện thể chế và phân cấp quản lý ATTP, vấn đề được lãnh đạo Bộ đặc biệt lưu ý là tình trạng thiếu nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu.

Việt Nam có lợi thế về sản xuất nông nghiệp, nhưng DN vẫn thiếu nguyên liệu ổn định. Theo ông Nam, nguyên nhân cốt lõi nằm ở liên kết sản xuất còn lỏng lẻo, hợp đồng giữa DN và vùng nguyên liệu chưa đúng bản chất Lãnh đạo Bộ đề nghị các hiệp hội ngành hàng và địa phương rà soát thực chất số DN đang thực hiện liên kết chuỗi đúng nghĩa; báo cáo định kỳ và coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2026. Đồng thời, khi điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các địa phương cần bảo vệ quỹ đất vùng nguyên liệu chủ lực, tránh bị thu hẹp bởi đô thị hóa. Nếu vùng nguyên liệu không được tích hợp trong quy hoạch, nguy cơ mất nguồn cung sẽ tác động trực tiếp đến sản xuất và xuất khẩu.

Tại Hội nghị, đại diện Sở NN&MT Hà Nội cho biết, Hà Nội đã phát triển mạnh các chuỗi liên kết sản xuất - cung ứng nông sản an toàn nhằm giải quyết bài toán nguyên liệu. Đến nay, TP đã phối hợp 26 tỉnh, TP hình thành và kiểm soát 1.388 chuỗi liên kết. Thông qua các chuỗi này, nông sản được kiểm soát từ khâu sản xuất, sơ chế, chế biến đến phân phối. Khoảng 250 DN xuất khẩu của Hà Nội đang tham gia kết nối nguồn nguyên liệu từ các địa phương, với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 2 tỷ USD.

Hà Nội cũng đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý ATTP; hơn 70% cơ sở sơ chế, chế biến đã sử dụng thiết bị tự động hoặc bán tự động; khoảng 20% DN áp dụng hệ thống quản lý chất lượng như ISO 22000, HACCP. TP đặt mục tiêu tiếp tục nâng tỷ lệ chế biến sâu để gia tăng giá trị, giảm phụ thuộc vào xuất khẩu thô.

Đánh giá cao nỗ lực này, Thứ trưởng Trần Thanh Nam nhận định xu hướng thị trường đang dịch chuyển từ sản lượng, giá cả sang "xanh - carbon" và các rào cản phi truyền thống. Năm 2026, những yếu tố liên quan thuế môi trường, tiêu chuẩn phát thải, truy xuất nguồn gốc sẽ tiếp tục gia tăng. Vì vậy, bên cạnh nỗ lực của cơ quan Trung ương trong đàm phán, tháo gỡ kỹ thuật, địa phương cần chủ động tổ chức xúc tiến thương mại, tận dụng hệ thống tham tán thương mại ở nước ngoài để quảng bá sản phẩm, nhằm giảm áp lực giá và mở rộng thị trường.

Năm 2026, ngành Nông nghiệp đặt mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 74 tỷ USD. Để hiện thực hóa mục tiêu này, theo Thứ trưởng Trần Thanh Nam, cần sự vào cuộc đồng bộ của cơ quan quản lý, hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp.

Hiệp hội phải chủ động đề xuất giải pháp, dự báo sớm tín hiệu thị trường, phân tích yếu tố cạnh tranh từ bên ngoài để tham mưu chính sách. Các biện pháp cần được triển khai ngay từ đầu năm, không chờ đến khi thị trường phát sinh rào cản mới xử lý.

Văn Sơn