Bắc Ninh công bố kết quả điều tra rừng trên địa bàn tỉnh
(PLVN) - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh Lê Xuân Lợi vừa ký ban hành Quyết định số 563/QĐ-UBND phê duyệt và công bố kết quả điều tra rừng tỉnh Bắc Ninh.
Theo kết quả điều tra, tổng diện tích rừng và diện tích chưa thành rừng tại thời điểm điều tra trên địa bàn tỉnh (thuộc 70 xã, phường có rừng) là 174.697,61 ha. Trong đó, diện tích có rừng đạt 146.884,78 ha, gồm 54.290,77 ha rừng tự nhiên và 92.594,01 ha rừng trồng. Diện tích chưa thành rừng là 27.812,83 ha, bao gồm diện tích đã trồng cây rừng nhưng chưa đạt tiêu chí thành rừng 20.772,47 ha; diện tích có cây tái sinh đang trong giai đoạn khoanh nuôi, phục hồi để thành rừng 634,79 ha; diện tích khác đang được sử dụng để bảo vệ và phát triển rừng 6.405,57 ha.
Tổng trữ lượng gỗ trên địa bàn tỉnh là 14.780.452 m³, trong đó trữ lượng gỗ rừng tự nhiên đạt 4.768.712 m³, trữ lượng gỗ rừng trồng đạt 10.011.740 m³. Tổng số cây tre, nứa được thống kê là 15.940 nghìn cây.

Toàn bộ số liệu và bản đồ điều tra rừng đã được tích hợp, đồng bộ lên phần mềm cập nhật diễn biến rừng FRMS Desktop 4.0, tạo điều kiện cho cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương theo dõi diễn biến rừng hằng năm, phục vụ công tác quản lý, khai thác và sử dụng rừng theo đúng quy định.
UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm quản lý, lưu trữ toàn bộ cơ sở dữ liệu kết quả dự án điều tra rừng của tỉnh; chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, đơn vị liên quan và UBND các xã, phường có rừng tổ chức theo dõi diễn biến rừng; tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh quyết định công bố hiện trạng rừng hằng năm; khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu rừng phục vụ công tác quản lý nhà nước về lâm nghiệp theo quy định.
Đồng thời, chỉ đạo các đơn vị chủ rừng nhóm II là các tổ chức thực hiện quản lý cơ sở dữ liệu kết quả điều tra rừng; quản lý nghiêm diện tích rừng tự nhiên hiện có; hằng năm tổ chức theo dõi diễn biến rừng trên diện tích được giao quản lý.
UBND các xã, phường có rừng có trách nhiệm quản lý, lưu trữ dữ liệu điều tra rừng; tổ chức quản lý chặt chẽ diện tích rừng tự nhiên theo quy định pháp luật; hằng năm phối hợp với Chi cục Kiểm lâm theo dõi diễn biến rừng; thống nhất, đồng bộ dữ liệu diện tích ba loại rừng (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất) với dữ liệu quản lý đất đai, phục vụ công bố hiện trạng rừng và khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu rừng theo quy định.